MỔ BƯỚU CỔ: KHI NÀO LÀ CẦN THIẾT VÀ NHỮNG LƯU Ý SAU MỔ?
1. Bướu cổ là gì?
Bướu cổ là tên gọi phổ biến để chỉ bướu xuất phát từ tuyến giáp, trong y học gọi là bướu tuyến giáp, bao gồm nhiều loại như phình giáp lan tỏa hay có hạt, viêm giáp, bướu lành, ung thư. Những bướu này có thể có hay không làm thay đổi chức năng của tuyến giáp như cường giáp, bình giáp hoặc suy giáp. Tất cả được xếp làm 3 nhóm: dạng lành tính, ung thư và rối loạn chức năng nội tiết tuyến giáp.
- Bướu tuyến giáp lành tính nếu có kích thước to sẽ gây nuốt vướng hoặc khó nuốt, khó thở (do chèn vào khí quản, thực quản) hoặc lồi ra trước cổ gây mất thẩm mỹ.
- Bướu tuyến giáp ác tính là loại ung thư gây xâm lấn các cơ quan xung quanh, nhất là dây thần kinh hồi thanh quản sẽ gây khàn tiếng hoặc khi bướu di căn sẽ gây tổn thương gan, phổi, xương, não…
- Bướu tuyến giáp có rối loạn chức năng nội tiết như: Suy giáp hoặc cường giáp sẽ ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể như: Gây kiệt sức, sụt hoặc tăng cân, hồi hộp ở ngực, mất ngủ, rụng tóc, run tay, đổ mồ hôi. Tuy nhiên, nhiều bệnh khác cũng gây ra các bất thường này, cần thăm khám bác sĩ để xác định bệnh.
2. Khi nào nên mổ bướu cổ?
Phần lớn các loại bướu cổ lành tính và hầu như không phải phẫu thuật. Chỉ trong những trường hợp thật sự cần thiết mới có chỉ định phải dùng đến phương pháp mổ.
Việc phẫu thuật mổ bướu cổ được chỉ định trong các trường hợp sau:
– Điều trị nội khoa bằng thuốc không có hiệu quả
– Bướu lành gây chèn ép khó thở, khó nuốt hoặc gây mất thẩm mỹ
– Bướu giáp thể nhân nhu mô cần cắt bỏ sớm vì dễ ung thư hóa, nhất là ở bệnh nhân nam > 40 tuổi.
– Các loại bướu giáp thể nang to nhanh chứa đầy máu và các bướu chìm sau xương ức, có kèm theo các dấu hiệu chèn ép rõ rệt các cơ quan trong trung thất hoặc đe dọa vỡ.
– Các loại bướu giáp gây rối loạn nội tiết, ví dụ cường giáp sau điều trị nội khoa kéo dài
– Bướu cổ chẩn đoán sinh thiết có nhân ác tính (ung thư)
– Bướu cổ có nhân, kết quả sinh thiết nghi ngờ ác tính
Không nên phẫu thuật mổ bướu cổ trong các trường hợp:
– Bướu giáp thể lan tỏa điều trị nội khoa bảo tồn có kết quả tốt: bướu nhỏ đi, các dấu hiệu chức năng mất dần.
– Ung thư tuyến giáp ở giai đoạn cuối đã có di căn.
– Bệnh basedow điều trị nội khoa hoặc bằng chất iod đồng vị phóng xạ có kết quả tốt.
– Bệnh basedow trong giai đoạn chưa ổn định: mạch còn nhanh >90l/p, chuyển hóa cơ bản cao >+20%… Mổ ở giai đoạn này tỉ lệ tử vong rất cao do biến chứng cơn bão giáp trạng.
– Các loại bướu giáp sinh lý và viêm tuyến giáp trạng giả bướu loại Hashimoto hoặc Riedel.
3. Phương pháp mổ bướu cổ
Điều trị bệnh bướu cổ có nhiều phương pháp nhưng phương pháp tối ưu nhất là phẫu thuật. Mổ bướu cổ thường có nhiều biến chứng, cho nên người bệnh cần lựa chọn những cơ sở y tế uy tín với đội ngũ bác sĩ giỏi có trình độ vững vàng và chuyên sâu để việc phẫu thuật đảm bảo an toàn và tránh các biến chứng sau mổ.
Một số phương pháp mổ bướu cổ hiện nay:
+ Cắt bỏ toàn bộ nhân hoặc nang bướu lành tính
+ Cắt giảm gần hoàn toàn tuyến giáp: Trong phẫu thuật này cần chú ý một số điểm sau đây:
– Tránh cắt phải dây thần kinh quặt ngược.
– Tránh cắt nhầm tuyến cận giáp.
– Tránh để lại quá nhiều tổ chức của tuyến giáp, chỉ nên để lại mỗi bên chừng 5 – 10g (hoặc 10%) trọng lượng của tuyến (tức là chỉ còn để lại một lớp mỏng tổ chức tuyến ở phần sau ngoài của các thùy tuyến).
– Khi áp dụng phương pháp cắt gần hoàn toàn tuyến giáp cho các trường hợp bướu giáp lan tỏa lành tính lớn cần chú ý: phải để lại tổ chức tuyến giáp nhiều hơn vì nếu để lại quá ít sẽ có nguy cơ suy giáp sau mổ. Nếu tuyến giáp chỉ to ra ở một thùy tuyến thì chỉ nên can thiệp phẫu thuật ở thùy tuyến đó mà thôi.
– Cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp và nạo hạch cổ hai bên: được áp dụng cho những trường hợp ung thư tuyến giáp. Sau mổ cần điều trị tiếp tục với hoóc-môn tuyến giáp và cận giáp kết hợp với xạ trị mặc dù xạ trị cho kết quả rất hạn chế trong ung thư tuyến giáp.
+ Cắt đốt bướu nhân tuyến giáp (bướu cổ) bằng sóng cao tần RFA: Đây là phương pháp xâm lấn tối thiểu, hiệu quả cao và an toàn, được sử dụng để điều trị thay thế cho phẫu thuật cắt tuyến giáp ở những bệnh nhân có nhân giáp lành tính nhân nhỏ và không muốn để lại sẹo mổ vùng cổ. Ngoài ra phương pháp cắt đốt nhân tuyến giáp bằng sóng cao tần RFA còn đem lại cho người bệnh một số lợi ích như:
– Bảo vệ mô tuyến giáp khỏe mạnh.
– Giúp tuyến giáp hoạt động bình thường mà không cần dùng thuốc suốt đời.
– Thủ tục xâm lấn tối thiểu.
– Thực hiện dưới gây tê cục bộ, không gây đau đớn nhiều.
– Điều trị ngoại trú, về trong ngày, không cần nằm viện.
– Thời gian phục hồi ngắn, bệnh nhân có thể trở lại hoạt động bình thường gần như ngay sau đó.
– Không để lại sẹo.
– Tỷ lệ biến chứng thấp.
– Được sử dụng trên toàn thế giới.
– Nâng cao chất lượng cuộc sống.
>> Cắt đốt bướu nhân tuyến giáp (bướu cổ) bằng sóng cao tần RFA ở đâu?
Khoa Ngoại của Bệnh viện Đa khoa Gia Định đã triển khai các kỹ thuật công nghệ cao cùng với đội ngũ chuyên gia, bác sĩ giàu kinh nghiệm, giúp điều trị các bệnh lý tuyến giáp như: bướu nhân tuyến giáp, bướu độc tuyến giáp, ung thư tuyến giáp và đốt nhân tuyến giáp bằng sóng RFA… Phương pháp RFA có chi phí thấp hơn các phương pháp khác nhưng đem hiệu quả cao, không cần rạch hở, không để lại sẹo, ít có biến chứng và không cần nằm viện. Người bệnh hoàn toàn có thể điều trị ngoại trú, đến và về trong ngày, giúp người bệnh tiết kiệm thời gian và chi phí.
Thông tin liên hệ và đặt khám:
- Địa chỉ: 425-427-429 Nơ Trang Long, Phường 13, Quận Bình Thạnh, TPHCM
- Hotline: (028) 3512 4688
- Website: https://bvdkgiadinh.com/
- Email: info@bvdkgiadinh.com
4. Những biến chứng sau mổ bướu cổ?
– Chảy máu vùng cổ có thể gây ra khó thở sau mổ, thường 24-48 giờ sau mổ.
– Thay đổi giọng nói, khàn tiếng hay mất tiếng do tổn thương dây thần kinh quặt ngược thanh quản
– Suy tuyến cận giáp có xuất hiện các triệu chứng của hạ canxi máu như: tê tay, tê chân sau mổ, bàn tay co quắp các ngón
– Xẹp khí quản sau mổ
– Suy giáp vĩnh viễn, thường có triệu chứng mệt mỏi, ù lì, thiếu sức sống. Người bệnh có thể sẽ dùng thuốc hormon giáp đến suốt đời
– Nhiễm trùng vết mổ
Người bệnh cần theo dõi tình trạng sức khỏe tại nhà. Khi thấy bất cứ những biến chứng bất thường sau mổ bướu cổ cần tìm đến bác sĩ. Căn cứ vào tình trạng và mức độ bệnh cụ thể, các bác sĩ sẽ có phương pháp xử trí kịp thời.
5. Cách chăm sóc sau khi mổ bướu cổ
– Sau mổ, người bệnh không la hét, cần nói chuyện nhẹ nhàng do vùng cổ đang tổn thương, cứng và đau. Nếu không tuân thủ, điều này tác động lên vùng cổ, ảnh hưởng đến vết mổ.
– Người bệnh tránh làm ẩm vết mổ hoặc tắm ướt lên vùng vết thương khi chưa khô, lành. Đặc biệt, không tắm bồn, không tắm dưới vòi hoa sen cho đến khi vết thương lành hẳn, tránh nhiễm trùng vết mổ. Người bệnh phải theo dõi vết mổ hàng ngày, cần khám ngay bác sĩ chuyên khoa Nội tiết nếu thấy các biểu hiện bất thường như: sưng tấy, thâm tím, chảy máu hoặc chảy dịch tiết.
– Trong giai đoạn lành, khi vết mổ bắt đầu đóng vảy gây ngứa ngáy, người bệnh không gãi mà sử dụng kem dưỡng ẩm làm mềm da và bớt ngứa, có thể hỏi bác sĩ về việc sử dụng thuốc chống sẹo.
– Kiêng ăn đồ cứng, khó tiêu, thức ăn cay nóng, thực phẩm từ nội tạng động vật, đậu nành, không ăn sống các loại rau họ cải. Mỗi bữa ăn cần đầy đủ dinh dưỡng, ăn uống lành mạnh, điều độ, không bỏ bữa. Xem thêm: Mổ bướu cổ nên kiêng ăn gì? Những lưu ý quan trọng về dinh dưỡng sau phẫu thuật
– Không vận động mạnh, không mang vác vật nặng ít nhất hai tuần sau mổ, đặc biệt ở vùng cổ phải tránh gập duỗi, xoay đầu quá mức. Người bệnh chỉ cần đi lại nhẹ nhàng để lưu thông khí huyết, nghỉ ngơi thư giãn.
– Uống thuốc và tái khám đầy đủ.
Bên trên là những lưu ý sau khi mổ bướu cổ mà Bệnh Viện Đa Khoa Gia Định chia sẻ. Và việc chăm sóc người bệnh sau mổ bướu cổ rất quan trọng, nhằm tránh những biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra. Người bệnh cần thực hiện đúng các chỉ định của bác sĩ. Nếu có dấu hiệu bất thường, cần đến gặp bác sĩ để được kiểm tra và điều trị kịp thời.





